Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Câu chuyện của một kiếm sỹ

Thiền học 9
Câu chuyện của một kiếm sỹ
Nội dung
(Trích từ Góp Nhặt Cát Đá, thiền sư MUJU, bản dịch Đỗ Đình Đồng)
“Matajuro Yagyu là con trai của kiếm sỹ nhật lừng danh. Cha anh cho rằng tài nghệ của con ông quá tầm thường khó mong chức phận làm thầy, nên ông đã từ chối, không dạy anh.
Vì thế Matajuro đến núi Futara và tìm được một kiếm sỹ lừng danh khác ở đó là Banzo, Banzo lại xác định lời nhận xét của cha anh, Banzo nói:
“Anh muốn ta dạy anh kiếm thuật phải không? Anh không đủ điều kiện để học kiếm đâu”
Matajuro một mực hỏi tiếp:
“Nhưng nếu con luyện tập chuyên cần thì con phải mất bao nhiêu năm để thành một kiếm sư?”
Banzo đáp: “Cả quãng đời còn lại của anh?”
Matajuro giải thích:
“Con không thể chờ lâu đến thế. Con sẽ vượt qua bất cứ khó nhọc nào, nếu thầy dạy con. Nếu con làm một người hiến mình giúp việc cho thầy thì con phải mất bao lâu?”
Banzo hơi dễ dãi: “ồ, có lẽ mười năm.”
Matajuro hỏi tiếp:
“Cha con đã già rồi và con phải sớm săn sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì phải mất bao lâu”
Banzo đáp “ồ, có lẽ ba mươi năm.”
Matajuro hỏi:
“Sao thế? Trước thầy bảo mười năm bây giờ ba mươi năm. Con sẽ vượt qua bất cứ khó cực nhọc nào để nẵm vững kiếm thuật trong một thời gian ngắn nhất.”
Banzo đáp:
“Được, với điều kiện anh phải ở lại đây với ta bảy năm. Một người quá nóng nảy muốn đạt kết quả như anh, ít khi học nhanh được.”
Sau cùng, Matajuro hiểu rằng mình đang bị trách mắng vì không có tánh kiên nhẫn. Anh ta kêu lên:
“Hay lắm. Con đồng ý”
Matajuro không bao giờ nghe nói một lời nào về kiếm thuật và cũng không bao giờ đụng tới thanh kiếm. Matajuro nấu ăn cho thầy, rửa chén bát, dọn giường ngủ, quét sân quét nhà, săn sóc vườn, nhất nhất không nói một lời nào về kiếm thuật.
Ba năm trôi qua, Matajuro vẫn làm việc. Nghĩ đến tương lai, anh ta buồn. Matajuro vẫn chưa bắt đầu học thứ nghệ thuật mà anh ta đã hiến mình cho nó.
Nhưng một hôm Banzo bò đến sau lưng Matajuro và tặng anh ta một đường kiếm rợn tóc gáy bằng một thanh kiếm gỗ.
Ngày hôm sau, lúc Matajuro đang nấu cơm, thình lình Banzo nhảy bay qua người anh ta.
Sau đó, ngày đêm Matajuro không suy nghĩ đến ý vị của lưỡi kiếm Banzo.
Matajuro học rất nhanh. Anh mang lại cho thầy những nụ cười vui vẻ. Matajuro trở thành một kiếm sĩ vĩ đại nhất nước.
  1. Phân tích
Câu chuyện trên cho ta thấy nhiều ý nghĩa hay liên quan đến việc tu tập thiền định. Điều thú vị trước hết chính là vị thầy buộc Matajuro bỏ đi tham vọng trở thành một kiếm sỹ lừng danh bằng cách không cho chàng nghĩ đến kiếm hay đụng tới thanh kiếm. Suốt ba năm làm những việc bình thường khiến cho chàng nguội lạnh dần dù thỉnh thoảng cảm thầy buồn tủi.
Thế rồi ông thấy Banzo mới sử dụng tuyệt chiêu để tạo thành tâm kiếm cho Matajuro bằng cách hay bất ngờ tấn công lén chàng. Điều này khiến chàng phải lo sợ cảnh giác thường xuyên. Chính tình trạng lo sợ cảnh giác thường xuyên đó được kéo dài lâu ngày và liên tục đến một mức tột đỉnh thì biến thành xuất thần nhập hóa. Matajuro không còn học kiếm với nội tâm bình thường như mọi kiếm sinh khác, mà học với nội tâm sáng suốt nhạy bén tĩnh lặng cao độ.
Người học Thiền cũng tương tự như vậy, cũng phải có ba tâm trạng: lo sợ, cảnh giác, thường xuyên thì mới có thể thành tựu thiền định xuất sắc được.
  1. Tâm trạng lo lắng
Có nhiều điều lo lắng khiến tâm ta bất an, đau khổ chẳng hạn như lo sợ người khác hơn mình, lo sợ ngày mai tài sản tiêu tán, lo sợ không có ai thương mình… Những điều lo lắng đó xuất phát từ ích kỷ nên đưa đến đau khổ, đồng thời củng cố thêm Bản ngã.
Ngược lại, có những điều lo lắng làm tâm ta trở nên cao thượng và mạnh mẽ hơn, chẳng hạn lo cho vận mệnh đất nước, cho nhân loại, cho Phật Pháp. Ai thiếu những điều lo lắng như vậy trong tâm là người thiếu đạo đức.
Có một điều lo lắng rất cần thiết đối với người tu hành, đó là lo sợ phạm lỗi. Người biết lo sợ lỗi lầm, trước hết, là người tốt. Kẻ xấu không bận tâm vì điều này. Kế nữa, đó cũng là người có đạo đức khiêm hạ (xin xem Tâm lý đạo đức 4) vì luôn nghĩ rằng mình có thể phạm lỗi bất cứ lúc nào. Người kiêu mạn thì cữ nghĩ rằng mình không hề sai lầm.
Người chủ quan cho mình không thể sai lầm sẽ là người phạm phải sai lầm liên tục. Ngược lại, người lúc nào cũng nơm nớp lo sợ lỗi lầm sẽ tránh được rất nhiều lỗi lầm. Những lỗi lầm mà ta phải lo sợ bị chém vào tâm hồn, vào cuộc đời mình đó là: ghét người, nóng giận, tự ái, hơn thua, kiêu mạn, ích kỷ, tham lam, sa đọa, hiểu lầm người… những lỗi lầm này rất dễ xuất hiện trong suốt cuộc đời mình và tạo nên tội lỗi nghiệp chướng. Những lỗi lầm này cũng không phải luôn luôn được phát hiện vì chúng cũng rất vi tế. Hiểu được như vậy nên người tu phải biết lo sợ thường xuyên. Sự lo lắng này là dấu hiệu của trí tuệ và đạo đức.
Song song với lo sợ lỗi lầm, người tu thiền còn một điều lo lắng khẩn trương hơn, đó là lo sợ vọng tưởng tấn công bất ngờ mà ta không biết để trừ diệt. Banzo đã tạo cho Matajuro tâm trạng lo sợ cực kỳ khẩn thiết này để khiến cho Matajuro trở nên xuất thần nhập hóa. Người tu thiền chúng ta bị thiệt thòi hơn vì không ai giúp ta có được sự lo sợ khẩn thiết như thế, vì vọng tưởng là cái ở bên trong tâm của ta, không đến từ bên ngoài. Nếu ta có được sự lo lắng khẩn thiết giống như Matajuro thì có lẽ ta có thêm nhiều Thiền giả xuất sắc trong Phật pháp.
  1. Tâm trạng cảnh giác
Từ tâm trạng lo lắng, ta sẽ xuất hiện tâm cảnh giác. Đó là trạng thái canh chừng xem xét kỹ lưỡng để nhanh chóng phát hiện lỗi lầm hay vọng tưởng có mặt hay không nhằm trừ diệt kịp thời. Matajuro đã phải luôn luôn canh chừng đường gươm đáng sợ của Banzo không biết đến từ phía nào vì Banzo luôn luôn chịu cực núp lén và ra chiêu nhanh như chớp. Tuy Banzo không chủ tâm đả thương học trò, nhưng những đường gươm bay sát đầu sát cổ của ông cũng khiến Matajuro hết hồn lo sợ và phải luôn luôn canh chừng chung quanh vì có khi Banzo tấn công từ một bụi cây, có khi từ đống rơm, từ khúc quanh, từ dưới gầm cầu, trên mái nhà, từ sau lưng, hay bất ngờ ở trước mặt. Khi tình trạng cảnh giác đạt đến cao độ và trùm khắp, Matajuro dần dần thành tựu linh giác biết rõ mọi điều chung quanh dù ở sau lưng hoặc trong bóng tối. Lâu ngày Matajuro biết luôn cả ý định đối phương trước khi họ kịp ra đòn. Khi đã biết quá rõ đối thủ thì phần còn lại là trả đòn thích đáng chỉ là chuyện dễ dàng.
Người tu thiền cũng vậy, phải canh chừng vì không biết vọng tưởng sẽ xuất hiện lúc nào, mang theo vấn đề gì khiến tâm ta bị cuốn hút chạy theo. Có khi đó là chuyện của quá khứ; có khi đó là niềm mơ ước tương lai; có khi đó là những suy nghĩ vụn vặt, chuyện buồn thương giận ghét… có khi đó là những lỗi lầm về đạo đức rất nguy hiểm như hận thụ ganh tị…
Nếu sự cảnh giác đạt đến mức độ sâu sắc tinh vi thấu suốt thì ta có thể đạt đến sự khai ngộ bất ngờ làm thay đổi cả trạng thái tâm thức.
  1. Thường xuyên
Tuy nhiên, chỉ khi nào sự lo sợ và cảnh giác được kéo dài liên tục nhiều ngày tháng thì linh giác xuất hiện. Banzo đã khiến cho Matajuro phải cảnh giác cao độ cả ngày và cả đêm. Có lẽ khi ngủ thiếp, Matajuro cũng vẫn bị ám ảnh bởi đường gươm của thầy. Người tu thiền cũng vậy, sự cảnh giác cần phải được duy trì miên mật không lơi lỏng thì sự khai ngộ mới có hy vọng. Matajuro có duyên may được một vị thầy tận tâm và thiện xảo. Còn người tu chúng ta phải làm thầy chính mình bằng cách cố gắng duy trì sự lo lắng về lỗi lầm và sự cảnh giác về vọng tưởng một cách tinh tấn không gián đoạn cả ngày và cả khi ngủ.
Ban đầu, Matajuro được cha mình, cũng là một kiếm sư, cho rằng không có căn cơ học kiếm đạo. Nhưng qua phương pháp phi thường của Banzo, Matajuro thành tựu tâm kiếm siêu nhiên và trở thành cao thủ đệ nhất. Cũng vậy, nếu một người có thể thường xuyên lo sợ lỗi lầm và cảnh giác vọng tưởng thì người đó vẫn có thể trở thanh cao tăng chân chính. Công đức này xuất phát từ nguồn gốc đạo đức khiêm hạ và sự chuyên cần đầy thiện chí. Đạo đức khiêm hạ và sự chuyên cần có thể đưa một người căn cơ tầm thường trở thành căn cơ xuất sắc.
Riêng đạo đức khiêm hạ bao trùm một phạm vi rất rộng lớn từ công phu lễ Phật siêng năng, tôn trọng mọi người đến ngăn ngừa kiêu mạn.
Câu chuyện của Matajuro và vị thầy Banzo cho chúng ta hiểu biết thêm về kiếm đạo Nhật bản vượt hẳn kiếm thuật bình thường.
Câu hỏi: Hãy nhận xét về sự cảnh giác của chính mình, có sự sâu sắc và kéo dài hay không?
Trích từ tài liệu : Giáo trình thiền học, Tỳ Kheo Thích Chân Quang, Nhà xuất bản Tôn Giáo


Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Thiền học 8: Điều thân

Thiền học 8
Điều thân
  1. Điều thân là công phu căn bản
Tuy ý nghĩa chính của Thiền là nhiếp tâm nhưng căn bản của việc nhiếp tâm lại chính là hoàn chỉnh tư thế ngồi của thân. Không phải vô tình mà ba đời chư Phật đều tọa thiền trong tư thế kiết già. Tư thế đó có liên quan chặt chẽ đến công phu nhiếp phục nội tâm.
Một số người chủ trương dễ dãi về tư thế, cho rằng ngồi như thế nào cũng được, là chưa thấy rõ tầm quan trọng của tư thế kiết già. Đúng là ngoài giờ tọa thiền chính thức thì ta có thể tu trong mọi oai nghi, đứng ngồi gì cũng được. Nhưng trong công phu chính thì tư thế kiết già là bắt buộc.
Thân và Tâm là một hợp thể thống nhất. Những gì có liên quan đến thân đều có liên quan đến tâm, và ngược lại. Khi muốn giữ gìn sức khỏe của thân thì ta luôn được các thầy thuốc khuyên là giữ gìn tâm hồn lành mạnh yên tĩnh. Khi muốn nhiếp phục nội tâm thì ta lại được Phật dạy về công phu điều thân là nền tảng dụng công.
  1. Ngồi đúng tư thế
Trước khi tọa thiền, ta có thể lễ Phật phát nguyện và cầu gia hộ.
Trải một tấm tọa cụ trên mặt phẳng. Kích thước tọa cụ làm sao rộng hơn diện tích ngồi là được. Tọa cụ có thể làm bằng vải dày, bằng chiếu lát, hoặc bằng một tấm miếng nệm mỏng vài phân, miễn sao ngăn hơi ẩm dưới đất thấm lên trên và giúp bớt cấn da thịt là được.
Sau này có một số vị sử dụng thêm một cái gối kê mông được gọi là bồ đoàn. Bồ đoàn làm cho ta có cảm giác đỡ phải ráng giữ lưng cho thẳng do phần mông đã được nâng lên một chút. Tuy nhiên bù lại bồ đoàn cũng có mặt trái. Chính cái cố gắng giữ lưng cho thẳng khiến cho lâu ngày sức mạnh tinh thần của ta mạnh mẽ hơn. Ngồi bồ đoàn làm mất đi ưu điểm này. Thêm nữa, ngồi bồ đoàn, sức nặng cơ thể chỉ còn dồn trên ba điểm: mông, và hai đầu gối, lâu ngày sẽ gây cấn khó chịu. Ngồi không có bồ đoàn, sức nặng toàn thân trải đều trên mông và hai đùi nên dễ chịu hơn. Khi đi đâu, ta cũng không cần phải mang theo bồ đoàn cồng kềnh.
Đừng mặc quần áo bó chặt. Nếu thời tiết mát mẻ, ta có thể ngồi trong Chánh điện mặc áo tràng, khung cảnh trang nghiêm giúp ta dễ nhận được sự gia hộ của Tam Bảo hơn.
Theo tư thế kiết già, ta bắt chân trái đặt lên đùi phải, sau đó kéo chân phải gạt lên đùi trái (thật ra chân phải gạt lên cả bắp vế và đùi trái)
Do bị bắt chéo nên chân phải ghì xuống rất mạnh khiến cho khớp bàn chân trái chịu lực rất căng. Những người gân khớp bàn chân yếu, hoặc người lớn tuổi gân cũng bị yếu thì không chịu nổi sự đè căng như thế, rất đau và không thể yên tâm ngồi lâu được. Vì vậy, cho phép trong trường hợp đó, hành giả được dùng miếng khăn xếp lại kê phụ chịu lực ngay phía dưới khớp bàn chân trái. Nhưng đừng lạm dụng kê độn lên dày quá, chỉ vừa đủ thì thôi.
Hai bàn chân nằm vắt lên hai đùi, ở một vị trí vừa phải, không quá sát hông, cũng không quá xa hông. Có vài trường phái Yoga bắt ngồi kéo hai bàn chân sát hông. Thiền đạo Phật không như thế.
Hai bàn tay đặt chồng lên nhau và cùng ngửa lên trên, nằm trên hai gót chân. Hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau. Giữ bàn tay thẳng đẹp, đừng để bàn tay cong vòng.
Hai cánh tay khuỳnh ra xa hông. Nhớ giữ đừng để hai cách tay ép sát hông. Giữ hai cánh tay như vậy có vẻ mất công, nhưng đó là điều kiện để tâm thêm sức mạnh. Nếu hai cánh tay lơi lỏng ở gần hông, sau này việc nhập định sẽ gặp chướng ngại.
Lưng giữ cho thẳng, nhưng đừng ưỡn thẳng quá sức sẽ làm mau mệt và căng thẳng thần kinh não.
Hai vai xuôi tự nhiên, tránh nghiêng bên cao bên thấp
Đầu không ngẩng đầu lên, có vẻ hơi cúi xuống một chút xíu. Đừng để nghiêng qua một bên, hay quay qua một bên.
Thông thường khi lưng bị cong xuống thì đầu lại bị ngẩng lên. Lưng giữ được thẳng thì đầu lại tự nhiên hơi cúi xuống chút xíu.
Miệng ngậm kín, lưỡi để lên chân răng trên. Khi tâm nhiếp được, tự nhiên răng sẽ cắn chặt với nhau.
Mắt nên mở rõ và nhìn xuống, đối với thời gian vài năm bắt đầu tu tập. Đến chừng nào hành giả thành tựu Chánh niệm tỉnh giác, dù nhắm mắt mà vẫn không bị mê mờ thì mới nên nhắm mắt.
Khi mở mắt nhìn xuống, ta nên giữ cho cảnh vật luôn luôn hiện bày rõ ràng, không bị mờ mờ ảo ảo. Giữ tầm mắt nhìn khoảng tám tấc dưới đất phía trước, không ngó đi qua chỗ khác. Tuy nhiên ta lại không chú ý vào ngoại cảnh vì phải lo tập trung kiểm soát toàn thân.
  1. Công phu điều thân
Sau khi ngồi xuống thành lập tư thế hoàn chỉnh chính xác như thế rồi, ta bắt đầu thực hiện công phu Điều Thân.
Trước hết, ta luôn luôn xem chừng, kiểm soát khắp thân xem có phần nào đi sai ra ngoài những tiêu chuẩn đã nên trên hay không. Những phần bị khóa kín như hai chân thì không sợ. Còn lại ta phải để ý xem những phần khác như hai bàn tay có thẳng đẹp không, hai cánh tay có bị ép gần sát hông không, lưng có bị chùng xuống không, hai vai có bị lệch không, đầu có bị nghiên không, mắt có bị ngó chỗ khác không.
Tuy ngồi bất động không nhúc nhích, nhưng cứ phải kiểm tra tới lui hoài các phần của cơ thể. Đó là công phu Điều thân căn bản, mà bất cứ cái gì căn bẳn đều quan trọng.
Khi vọng tưởng khởi lên khiến ta bị quên thì thôi, còn khi sực tỉnh thì không cần diệt trừ vọng tưởng, mà chỉ cần quay trở lại kiểm tra tất cả bộ phận cơ thể là đủ.
Phần Điều thân kế tiếp là kiểm tra toàn thân xem có được mềm mại và bất động chưa.
Chúng ta dễ bị hai lỗi là gồng cứng vài cơ bắp nào đó, hoặc nhúc nhích một vài bộ phận nào đó.
Hai lỗi lầm đó làm tâm bị chướng ngại, vì như ta đã biết, mỗi phần trên cơ thể đều có liên quan đến một khu vực của não. Thân bị lay động hay căng thẳng gồng cứng thì não cũng ảnh hưởng theo.
Khi thân ta giữ được buông lỏng, mềm mại, đồng thời cũng không nhúc nhích, não sẽ bắt đầu ổn định dần dần. Những stress tiềm tàng trong não từ lâu cũng bắt đầu được tháo ngỡ.
Ban đầu ta kiểm tra liên tục xem toàn thân có chỗ nào bị sai tư thế không; kế đến ta kiểm tra một cách tinh tế hơn là xem có bộ phận nào bị gồng cứng hay nhúc nhích không, toàn thân có được mềm mại và bất động chưa, nhất là các ngón tay, ngón chân, bắp đùi, bắp vế, bắp tay. Sự kiểm tra thường xuyên như thế chính là công phu Điều thân. Kiểm tra tư thế là Điều thân ở mức độ cơ bản; kiểm tra sự mềm mại bất động là Điều thân ở mức độ sâu hơn.
Giữ thân nghiêm trang cũng chính là giữ tâm trang nghiêm; giữ thân bất động cũng chính là giữ tâm có điều kiện bất động; giữ thân mềm mại cũng chính là giữ tâm có điều kiện thư giãn khinh an.
Ngay trong lần thực hành tọa thiền đầu tiên, ta nên cố gắng. Điều thân 30 phút. Hãy lấy thân làm gốc của tâm. Đây là nguyên tắc vàng tu tập thiền định. Sau này ta sẽ dần dần thấy rõ sự nhiếp tâm không bao giờ rời xa sự kiểm soát thân. Điều thân cho đúng là bắt đầu và cũng là vĩnh viễn.
Thời gian thực hành Điều thân kỹ lưỡng chuyên chú như vậy phải được một tháng trở lên. Sau đó sẽ bước sang các công phu kế tiếp của Thiền định chồng ghép lên trên công phu Điều thân này.
Câu hỏi: Hãy học thuộc lòng bài Điều thân này và viết lại đầy đủ những ý chính mà không cần tài liệu.
Trích từ tài liệu : Giáo trình thiền học, Tỳ Kheo Thích Chân Quang, Nhà xuất bản Tôn Giáo
Xem thêm video bài giảng: Thiền học & Công phu điều thân


   Thiền học 1: Khái niệm về thiền

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Thiền học 7: Ý nghĩa siêu nhiên của Thiền

Thiền học 7
Ý nghĩa siêu nhiên của Thiền


  1. Tính hai mặt của Vũ trụ
Những gì khoa học ngày nay khám phá về chất liệu làm nên Vũ trụ chỉ là một mặt. Đầu tiên, chất liệu làm nên vũ trụ là vật chất gồm các nguyên tố hóa học, với cấu trúc căn bản là nguyên tử. Rồi những dạng tồn tại khác, không thể nhìn thấy bằng mắt thường, như Trường điện từ, sóng vô tuyến, plasma, laser… tiếp túc được xếp vào chất liệu của thiên nhiên, của vũ trụ. Tất cả những chất liệu đó tạo nên những thiên thể lớn lao trong vũ trụ như các Thiên hà.
Nhưng một điều làm các nhà khoa học băn khoăn là số liệu tính toán về khối lượng vật chất trong vũ trụ không phù hợp với thực tế chuyển động của các thiên thể. Dường như còn gấp mười lần khối lượng dấu mặt mà khoa học chưa tìm thấy.
Khối lượng chất liệu dấu mặt đó chừng nào sẽ được tìm thấy thì ta chưa biết, nhưng theo lời Phật dạy, chúng ta biết còn rất nhiều cõi giới siêu hình như các cõi trời, ngạ quỷ, địa ngục. Có thể chính sự tồn tại của các cõi trời đã ảnh hưởng đến sự chuyển động của các thiên thể.
Theo vũ trụ quan của đạo Phật thì còn những cõi giới siêu hình bên cạnh cõi giới vật chất mà chúng ta đang cư trú; bên cạnh những chúng sinh mang thân vật chất, còn có những chúng sinh mang thân siêu nhiên để tồn tại ở cõi siêu hình. Ta có thể tạm gọi chất liệu siêu nhiên đó là tâm linh. Và như vậy, Vũ trụ được tạo thành bởi ít nhất hai chất liệu: vật chất và tâm linh.
Chất liệu Tâm linh đó là gì thì hiện nay chưa được khoa học nghiên cứu để có thể lập nên một hệ thống lý luận logic. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về vũ trụ hoặc nguồn gốc sự sống thì chúng ta phải quan tâm nhiều đến sự hiện diện của chất liệu tâm linh của vũ trụ.
  1. Thiền như là con đường tìm thấy chân lý của Vũ trụ
Trong khi khoa học khởi điểm đi tìm chân lý của Vũ trụ bằng con đường vật chất thì đạo Phật đi tìm chân lý của Vũ trụ bằng con đường Thiền định. Ngoài những ích lợi về giải thoát, đạo đức, an lạc, thiền định còn cho ta sự thấu hiểu về Vũ trụ khi ta tiến dần vào trong sự an định nội tâm.
Khi ta tiến dần vào sự an định, tâm ta cũng tiến dần vào thế giới Tâm linh, thoát dần khỏi thế giới vật chất. Lúc đó, cái nhìn của chúng ta về cuộc sống cũng khác đi rất nhiều, bớt chấp vào danh lợi của thế gian.
Ta có thể nói rằng mối dây liên hệ giữa hai chất liệu vật chất và tâm linh của vũ trụ chính nằm nơi tâm của chúng sinh. Chúng ta không thể đi tìm cõi giới huyền linh bằng một phương tiện kỹ thuật, dù kỹ thuật đó có cao siêu đến đâu. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy khía cạnh tâm linh của vũ trụ bằng cách đi xuyên qua nội tâm an định. Càng vào định sâu chừng nào thì vũ trụ càng phơi bày rõ ràng chừng đấy.
Khi tâm an trú trong định, thân thể và thế giới vật chất này trở nên mờ nhạt dần, không còn quan trọng như lúc trước nữa. Tuy nhiên, tâm hồn của hành giả lại tỉnh giác hơn, sáng suốt hơn. Chính sự tỉnh giác đó khiến cho hành giả tự tin nơi cái nhìn mới của mình không phải là một ảo giác.
Ngoài ra, những khả năng đặc biệt xuất hiện dần dần càng chứng tỏ tính chân thật của thế giới tâm linh đó. Những vị thánh có thể biết những chuyện từ xa, biết trước chuyện sẽ đến, biết những chuyện còn bị che giấu, và có thể có nhiều thần thông khác. Riêng trong đạo Phật, một vị được gọi là chứng Alahán (Arahanta) phải có đủ sáu loại thần thông.
Vị Arahanta có thể biết nhân duyên từ vô lượng kiếp của mình hay của bất cứ chúng sinh nào khác, và dĩ nhiên, biết rõ luật Nhân quả Nghiệp báo đã chi phối chặt chẽ đời sống của chúng sinh như thế nào. Luật nhân quả là một nguyên lý cực kỳ quan trọng trong vũ trụ. Thiếu hiểu biết về Nhân quả, chúng ta mất đi một mảng lớn chân lý trong kiến thức của loài người. (Trường Phật học phải nhanh chóng đưa môn Nghiệp Báo học vào chương trình giảng dạy).
Vị Arahanta có thể nhìn thấy chúng sinh tồn tại trong các cõi giới siêu hình khác như cõi trời, địa ngục, ngạ quỷ… Những cõi giới đó vừa độc lập, vừa liên quan đến cõi người chúng ta. Việc hiểu rõ về những cõi giới siêu hình giúp chúng ta sống đúng hơn, đạo đức hơn, khiêm tốn hơn, và đặc biệt là không bị mê tín. Hiểu sai về cõi giới siêu hình là nguyên nhân đưa đến mê tín. Phủ nhận cõi giới siêu hình cũng lại là một khiếm khuyết trầm trọng của tri thức.
Thiền phát huy năng lực tâm linh tiềm ẩn nơi mỗi người. Thật ra sức mạnh cơ bắp cũng có một phần yếu tố tâm linh. Trí thông minh cũng có một phần yếu tố tâm linh. Khi tâm thanh tịnh, năng lực tâm linh được phát triển dần hỗ trợ cho sức cơ bắp và hoạt động trí não.
Có thể nói một nội tâm yên tĩnh và sáng suốt là cánh cửa mở ra kho tàng tâm linh bất tận, hay là cánh cửa thông lưu với các cõi giới cao hơn.
Tâm cũng có tính hai mặt giống như vũ trụ. Khi loạn động, cái tâm đó bị kết dính vào thế giới vật chất. Khi thanh tịnh, cái tâm đó hướng dần lên thế giới tâm linh. Đây là nguyên lý quan trọng của Tâm
  1. Cảnh giác với những ảo giác và mê tín
Mặc dù Thiền có một ý nghĩa siêu nhiên rất lớn, nhưng nếu không khéo, chúng ta sẽ dễ bị lạc vào những ảo giác và mê tín.
Ảo giác là những hình ảnh hay âm thanh hiện ra trong tâm mà ta cứ tưởng là những thực thể nên bị dẫn dụ vào thế giới huyễn hoặc hoang đường cho đến khi không còn là người bình thường được nữa. Ảo giác đó có thể là do chính nội tâm ta tạo nên, hoặc do chúng sinh trong thế giới siêu hình tác động. Dĩ nhiên tất cả đều do nghiệp chi phối. Chúng ta đã bị tổn phước gì đó nên ảo giác mới xuất hiện để phá rối tâm thức. Ảo giác đó có khi là những vị Thánh chúng ta khát ngưỡng, những mơ ước thầm kín, những quá khứ bí ẩn, những cảnh giới lạ lùng đẹp đẽ, nhưng sinh thể kỳ dị những lời noi đạo lý tuyệt vời… Nếu không hiểu rõ, chúng ta sẽ tin những ảo giác đó là thật rồi tò mò đi theo mãi. Có khi chúng ta còn tự hào cho mình đã thành công trên con đường tu tập.
Hoặc khi nghe nói Thiền là con đường siêu nhiên, chúng ta sẽ nghe lời giải thích sai lạc, hoang đường, thần bí, dối trá của các tà sư về cõi giới siêu hình. Họ thêu dệt hoặc suy diễn không đúng với sự thật, chỉ cốt để đề cao cá nhân họ giống như thần thánh, tự cho mình liên lạc được với thế giới siêu hình, dụ dỗ người tin theo để rồi lợi dụng lợi dưỡng hưởng thụ.
Vì vậy, tuy biết Thiền là con đường siêu nhiên vượt thế, nhưng chúng ta không nên chú ý nhiều vào năng lực tâm linh, mà chỉ nên quan tâm đến Đạo đức giới hạnh. Nếu có sự đánh giá sự tu tập của ai, chúng ta cũng căn cứ trên Đạo đức giới hạnh. Nếu nghe ai nói những điều cao siêu kỳ lạ, chúng ta cũng đừng để bị lung lạc mà chỉ nên để ý đến giới hạnh của người đó.
  1. Cõi tạm bợ
Mọi điều trên đời đều vô thường thay đổi, không tồn tại lâu. Thế giới vật chất này không phải là chỗ chúng ta ở mãi. Nếu tu hành chân chính, chúng ta sẽ tiến lên dần các cõi cao hơn, đó là những cõi trời mà Phật vẫn thường hay đề cập. Tuy nhiên, sự tu hành chân chính lại được đánh giá theo những gì chúng ta làm được cho thế giới hiện tại này. Vì thế, tuy không tham luyến thế gian, nhưng chúng ta lại rất tận tụy với thế gian này. Đó là Trung đạo chân chính nhất.
Nhưng rồi những cói siêu nhiên cao hơn cũng không phải là cái cứu cánh mà đạo Phật nhắm tới. Cứu cánh giải thoát Niết bàn của Phật là một cảnh giới tối cao mà không một ngôn từ nào diễn tả được trọn vẹn.
Câu hỏi: Trình bày ý nghĩa vừa siêu nhiên vừa thực tế của Thiền 
Trích từ: Giáo trình Thiền học, Tỳ Kheo Thích Chân Quang Biên soạn, Nhà xuất bản tôn giáo. 


Nghe bài giảng: Ý nghĩa siêu nhiên của Thiền

Tham khảo thêm các bài khác
  Thiền học 1: Khái niệm về thiền

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Thiền học 6: Cơ chế tâm lý của thiền

Thiền học 6:
Cơ chế tâm lý của thiền
  1. Hệ thống tâm thức
Trên thế giới có nhiều trường phái Tâm lý học, và mỗi trường phái có cách nhìn khác nhau về hệ thống Tâm thức. Trong đạo Phật, chúng ta dựa vào cấu trúc Năm Uẩn của Phật dạy để quan sát Tâm thức. Sau này giáo lý Đại thừa có phát minh Duy thức học để nghiên cứu Tâm thức.
Cấu trúc Năm Uẩn được liệt kê như sau:
-Sắc uẩn: là thân thể với hình tướng rõ rệt. Chúng sinh cõi người thì Sắc uẩn là tấm thân vật chất; chư Thiên thì Sắc uẩn là thân thể rất lớn và bằng chất liệu siêu nhiên.
-Thọ uẩn: là phần Cảm giác khổ vui, dễ chịu, khó chịu, bực bội thoải mái. Ngoài ra còn một cảm giác trơ, không khổ không vui. Thọ uẩn liên quan đến toàn bộ hệ thống thần kinh khắp cơ thể.
-Tưởng uẩn: là phần nổi của tâm, hiện ra những suy nghĩ, tưởng tượng, hồi ức… đã được biến thành ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh… rõ rệt. Tưởng uẩn liên quan đến vùng thần kinh Broca và thùy trán. Ý thức có thể thấy được hoạt động của Tưởng và Thọ uẩn nên Tưởng và Thọ được xếp vào phần Ý thức của Tâm.
-Hành uẩn: là phần chìm sâu của tâm thức, rất lớn, chịu trách nhiệm gần như toàn bộ hoạt động của Tâm như tìm tòi, sáng tạo, suy luận, hồi tưởng, quyết định, điều khiển cơ thể… Hoạt động của Hành uẩn rất nhanh, Ý thức của chúng ta không thấy kịp, vì vậy Hành uẩn được xếp vào phần Vô thức của Tâm. Hành uẩn cũng chứa đựng các Bản năng tự nhiên của con người như Bản năng sinh tồn, bản năng hưởng thụ. Bản ngã cũng tồn tại ở đây. Khi Tâm vào được định thì Hành uẩn lại là nơi khởi phát thần thông.
-Thức uẩn: là tất cả những cái biết của Tâm. Cái biết là bản chất của Tâm thức. Không có biết thì không phải là Tâm. Có nhiều mức độ biết khác nhau. Cái biết của năm giác quan (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân); cái biết của Ý thức (tự biết nội tâm mình); cái nhận biết được khi học, đọc, nghe, nhìn những vấn đề trừu tượng; cái biết của trực giác thần thông, cái biết của tâm tỉnh giác trong Định…. Tốc độ của Thức uẩn rất nhanh, gấp ngàn lần Hành Uẩn. Người thông minh thì Thức uẩn mạnh hơn người khác.
Ngoài ra, kèm theo Năm Uẩn, ta có thêm những thành phần sau:
-Ký ức: là bộ nhớ ghi lại những dữ liệu đã được đón nhận từ bên ngoài vào hay khởi từ nội tâm ra. Có người có khả năng tìm lại dữ liệu rất mạnh, có người dễ quên. Trong ký ức, tính tình tốt xấu, sở thích đa dạng cũng được cất giữ và chi phối suy nghĩ hành vi của con người.
-Tình cảm: là tất cả những thương ghét, giận hờn, ham muốn, khát khao, chán nản, sợ hãi…. Tình cảm liên hệ trực tiếp với thần kinh Tim, và là động cơ cho hầu hết mọi hành vi tạo Nghiệp của chúng sinh.
  1. Các loại tư tưởng
-Tư tưởng cố ý: là những tư tưởng có chủ đích, vì công việc bắt buộc phải suy nghĩ. Nếu đó là những công việc chính đáng, có lợi cho chúng sinh, thuộc về Thiện pháp thì tư tưởng cố ý tạo nên phước, không có lỗi, giúp việc nhiếp tâm trong thiền được dễ dàng. Tuy nhiên ta cũng không được lạm dụng để suy nghĩ nhiều.
-Tư tưởng vẩn vơ: là những tư tưởng tự dưng khởi lên trong tâm mà ta không muốn, nên còn gọi là vọng tưởng. Tư tưởng vẩn vơ xuất hiện do thói quen của não muốn duy trì hoạt động để tồn tại. Có khi tư tưởng vẩn vơ khởi lên từ Ký ức; có khi khởi lên từ chế tác của Hành uẩn. Đây là cửa ải đầu tiên và cũng vất vả nhất cho người tu thiền.
-Tư tưởng thiện: tư những tư tưởng tốt lành, phù hợp với Đạo lý, có tính chất vị tha, đối vởi bản thân thì khiêm hạ. Những tư tưởng này là những viên gạch xây nền cho Chánh niệm, Chánh định về sau. Tư tưởng thiện cũng thuộc về Chánh tư duy trong bát chánh đạo. Khi tư tưởng thiện làm chủ tâm hồn thì tâm tự nhiên yên lắng và tỉnh giác. Có thể nói tâm thiện và tâm định nằm chung một phía.
-tư tưởng bất thiện: là những tư tưởng ích kỷ, ác độc, tham lam, ganh ghét, tự cao… Tư tưởng này là tâm bất an dần dần, có thể đưa tới điên loạn về sau. Có thể nói tâm bất thiện và tâm định nằm về hai phía trái ngược nhau.
Tuy nhiên, Tư tưởng thiện hay bất thiện đều phải được khẳng định bởi hành vi. Nếu chưa tạo thành hành vi thì tư tưởng đó chưa mạnh.
  1. Vai trò của Ý thức
Ý thức là cái biết chính nội tâm của mình. Khi ta suy nghĩ điều gì, ta vẫn biết ta đang suy nghĩ điều đó. Khi ta thương hay ghét ai, ta vẫn biết mình đang thương ghét như thế. Bên cạnh các hoạt động nhộn nhịp của Tâm thức, vẫn có một cái biết âm thầm (theo dõi) các hoạt động đó. Chính nhờ Ý thức độc lập khỏi tư tưởng tình cảm mà ta mới có thể dần dần tu tập để dừng được vọng tưởng.
Hãy cho một ví dụ để so sánh như sau: Ví dụ ta đang ngồi xem nhiều người đùa giỡn trước mặt. Rồi có khi ta bị lôi kéo để nhào theo vui đùa, hoặc có khi ta chỉ ngồi yên theo dõi.
Cũng vậy, Ý thức giống như người theo dõi những kẻ trước mặt vui đùa. Có khi Ý thức chìm theo tư tưởng để suy luận, sáng tạo, gia tăng sức mạnh cho tư tưởng… Nhưng cũng có khi Ý thức lặng lẽ biết mà thôi, độc lập tách khỏi tư tưởng, khiến cho tư tưởng yếu đi và tắt.
Yếu chỉ của việc tu thiền chính là cố gắng giữ cho Ý thức luôn luôn độc lập với vọng tưởng, biết rõ tưởng nhưng độc lập với vọng tưởng, và tiến tới chấm dứt vọng tưởng. Nói thì dễ, nhưng hành giả phải có nhiều công đức và quyết tâm mới có thể tách ra được như vậy.
Câu hỏi: Bạn thấy gì khi quan sát nội tâm của mình? Bạn có tách ra khỏi vọng tưởng được chưa? 
 Tỳ kheo Thích Chân Quang Biên Soạn, Giáo trình thiền học

Nghe bài giảng: Cơ chế tâm lý của Thiền